Khi bạn đọc báo, xem tin tức hoặc đọc tài liệu tiếng Anh, bạn sẽ thấy người bản ngữ rất ít khi viết những câu dài dòng kiểu: The man who is standing over there is my boss.
Thay vào đó, họ sẽ viết ngắn gọn lại thành: The man standing over there is my boss.
Cách viết này gọi là Rút gọn mệnh đề quan hệ (Reduced Relative Clauses). Nó giúp câu văn của bạn trở nên gọn gàng, súc tích và chuyên nghiệp hơn rất nhiều.
Trong bài viết này, chúng mình sẽ cùng tìm hiểu 3 cách rút gọn mệnh đề quan hệ phổ biến nhất mà bạn có thể áp dụng ngay lập tức nhé.
I. 3 Phương pháp rút gọn mệnh đề quan hệ chính
Chúng ta có 3 cách rút gọn tương ứng với 3 dạng cấu trúc của mệnh đề quan hệ: Chủ động, Bị động, và các trường hợp có từ chỉ thứ tự/so sánh nhất đứng trước.
1. Rút gọn bằng V-ing (Dùng cho mệnh đề CHỦ ĐỘNG)
Nếu động từ trong mệnh đề quan hệ mang nghĩa chủ động (chủ ngữ tự thực hiện hành động), chúng ta có thể rút gọn bằng cách:
- Lược bỏ đại từ quan hệ (who, which, that).
- Lược bỏ trợ động từ to be (nếu có).
- Chuyển động từ chính về dạng V-ing.
Ví dụ:
Câu đầy đủ: The girl who is playing the piano is my cousin. Chuyển thành: The girl playing the piano is my cousin. (Cô gái đang chơi đàn piano là em họ tôi.)
Câu đầy đủ: People who work in this office are very friendly. Chuyển thành: People working in this office are very friendly. (Những người làm việc ở văn phòng này rất thân thiện.)
2. Rút gọn bằng V3/ed (Dùng cho mệnh đề BỊ ĐỘNG)
Nếu động từ trong mệnh đề quan hệ mang nghĩa bị động (chủ ngữ bị tác động bởi hành động khác), ta rút gọn bằng cách:
- Lược bỏ đại từ quan hệ (who, which, that).
- Lược bỏ trợ động từ to be.
- Giữ lại động từ chính ở dạng Phân từ hai (V3/ed).
Ví dụ:
Câu đầy đủ: The house which was built in 1990 is still strong. Chuyển thành: The house built in 1990 is still strong. (Ngôi nhà được xây năm 1990 vẫn còn rất kiên cố.)
Câu đầy đủ: The report that was sent by Huy had many mistakes. Chuyển thành: The report sent by Huy had many mistakes. (Bản báo cáo do Huy gửi có rất nhiều lỗi.)
3. Rút gọn bằng To V (Dùng khi có từ chỉ thứ tự / so sánh nhất)
Chúng ta sẽ rút gọn mệnh đề quan hệ thành dạng động từ nguyên thể có “to” (To V) khi danh từ đứng trước đi kèm với các từ chỉ thứ tự như: the first, the second, the last, the only, hoặc các tính từ so sánh nhất.
Quy trình rút gọn:
- Lược bỏ đại từ quan hệ.
- Chuyển động từ chính (hoặc động từ to be) thành To V-bare (nếu là bị động thì chuyển thành To be V3/ed).
Ví dụ chủ động:
Câu đầy đủ: He is the last student who left the classroom. Chuyển thành: He is the last student to leave the classroom. (Cậu ấy là học sinh cuối cùng rời khỏi lớp.)
Câu đầy đủ: Neil Armstrong was the first man who walked on the moon. Chuyển thành: Neil Armstrong was the first man to walk on the moon. (Neil Armstrong là người đầu tiên đi bộ trên mặt trăng.)
Ví dụ bị động:
Câu đầy đủ: This is the only book that must be read. Chuyển thành: This is the only book to be read. (Đây là cuốn sách duy nhất cần phải đọc.)
II. Rút gọn bằng cụm danh từ hoặc tính từ
Trong một số trường hợp đặc biệt, nếu mệnh đề quan hệ có dạng: Đại từ quan hệ + be + cụm danh từ / cụm tính từ / cụm giới từ, bạn chỉ cần lược bỏ đại từ quan hệ và to be, giữ lại cụm phía sau.
Ví dụ cụm danh từ:
Câu đầy đủ: My uncle, who is a famous doctor, lives in Hanoi. Chuyển thành: My uncle, a famous doctor, lives in Hanoi. (Bác tôi, một bác sĩ nổi tiếng, sống ở Hà Nội.)
Ví dụ cụm giới từ:
Câu đầy đủ: The book which is on the shelf is mine. Chuyển thành: The book on the shelf is mine. (Cuốn sách ở trên kệ là của tôi.)
III. Lỗi phổ biến của người Việt
Khi thực hành rút gọn mệnh đề quan hệ, người học tại Việt Nam rất dễ mắc phải các lỗi sai dưới đây:
Lỗi 1: Nhầm lẫn giữa chủ động và bị động khi rút gọn
Người Việt hay viết: The house building last year is very nice.
- Giải thích: Ngôi nhà không thể tự xây dựng được nên động từ phải ở dạng bị động. Khi rút gọn mệnh đề bị động, bắt buộc phải dùng phân từ hai built, không dùng building.
- Cách viết đúng: The house built last year is very nice.
Lỗi 2: Giữ lại đại từ quan hệ khi đã rút gọn động từ
Người Việt hay viết: The man who standing over there is my teacher.
- Giải thích: Nếu đã dùng V-ing để rút gọn (standing), bắt buộc phải bỏ đại từ quan hệ who. Nếu muốn giữ lại who, bạn phải viết đầy đủ là who is standing.
- Cách viết đúng: The man standing over there is my teacher. hoặc The man who is standing over there is my teacher.
Lỗi 3: Dùng V-ing thay vì To V sau từ chỉ thứ tự
Người Việt hay viết: She was the first person entering the room.
- Giải thích: Do phía trước danh từ person có cụm từ chỉ thứ tự the first, động từ rút gọn bắt buộc phải chuyển sang dạng to enter, không dùng entering.
- Cách viết đúng: She was the first person to enter the room.
IV. Bài tập thực hành
Bài tập luyện tập
1. The man _______ next to Huy is my English teacher.
2. Most of the goods _______ in this factory are exported.
3. She was the second athlete _______ the finish line.
4. I have a lot of letters _______ today.
5. The cars _______ in the accident were badly damaged.